Hoài Sơn, ngoài việc được dùng như 1 vị thuốc, Hoài Sơn còn là một loại thực phẩm rất bổ dưỡng và cũng đã phổ biến ở nước ta. Hiện đã được trồng nhiều tại VN nên giá cả cũng phải chăng.
Hôm nay mời các bạn tham khảo món tráng miệng "xinh đẹp" làm từ Hoài Sơn này nhé!
Nguyên liệu
300g củ hoài sơn / của mài
15 vỏ hoành thánh
1M đường cát trắng
2M sữa tươi
3M mứt việt quất
1 trái khổ qua loại thon dài
Dầu chiên
Cách làm
Hoài sơn gọt vỏ, cắt khúc 3cm, hấp chín.
Tán nhuyễn, trộn đường và sữa tươi cho thật mịn, rồi cho vào túi bắt bông kem với đui 12 khía.
Cắt lát khổ qua khỏang 0,8cm làm đế bánh.
Bỏ vỏ hoành thánh vào cái rây nhỏ, dùng muôi nhỏ ép xuống tạo khoảng lõm ngay giữa.
Đun nóng dầu, múc dầu xối vào vỏ hoành thánh cho se lại, rồi từ từ thả xuống chảo dầu chiên vàng nhạt. Rồi vớt lên để ráo.
Đặt vỏ hoành thánh lên đế khổ qua. Bóp "kem" hoài sơn vào lòng vỏ hoành thánh, tạo chóp cho đẹp.
Xếp Bánh Hài Sơn ra dĩa, múc mứt việt quất rưới lên trên cho ngon ngọt, đẹp mắt!
* Nếu không có HS, các bạn dùng khoai mì loại mềm, thay sữa bằng nước cốt dừa, mứt việt quất bằng mứt dâu cũng ngon và xinh lắm.
Chúc các bạn có thêm một món ngon bổ rẻ và xinh xắn nhé!
Không cần loại bỏ hoàn toàn cơm, bánh mì, khoai, trái cây hay yến mạch. Điều quan trọng hơn là khẩu phần và cách kết hợp thực phẩm.
Một bữa ăn có thể bắt đầu bằng nguyên tắc đơn giản: bổ sung rau và thực phẩm giàu chất xơ, có nguồn protein phù hợp, sau đó kiểm soát lượng thực phẩm giàu carbohydrate. Đặc biệt, đừng mặc định rằng thực phẩm "tự nhiên", "nguyên cám" hay "không đường" có thể ăn không giới hạn.
Chất xơ có thể giúp làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thu carbohydrate. Các nguồn tốt gồm rau, đậu, trái cây nguyên quả và ngũ cốc nguyên hạt.
Vận động sau ăn cũng là một cách đơn giản để hỗ trợ kiểm soát đường huyết. Khi cơ bắp hoạt động, chúng sử dụng glucose làm năng lượng và có thể giúp hạ đường huyết. Hoạt động thể chất làm tăng độ nhạy insulin và giúp cơ sử dụng glucose hiệu quả hơn.
Một cuộc đi bộ nhẹ sau bữa ăn, đi lại trong nhà, rửa bát hoặc làm việc nhà đều tốt hơn việc ngồi bất động trong thời gian dài. Tuy nhiên, người đang dùng insulin hoặc một số thuốc hạ đường huyết cần lưu ý nguy cơ đường huyết xuống quá thấp khi vận động và nên trao đổi với bác sĩ về thời điểm tập phù hợp.
Cuối cùng, nếu bạn liên tục có những đợt đường huyết tăng cao dù đã ăn uống khá khoa học, đừng vội tự cắt thêm thực phẩm hoặc nhịn ăn. Đường huyết còn chịu ảnh hưởng bởi cân nặng, mức độ vận động, giấc ngủ, stress, bệnh lý và thuốc đang sử dụng.
Nếu thường xuyên đói ngay sau ăn, mệt rũ, khát nước hoặc đau đầu, bạn nên xem lại thành phần và khẩu phần của bữa ăn thay vì chỉ nhìn vào việc món ăn có được gắn mác "lành mạnh" hay không.
Ăn yến mạch, trái cây, bánh mì nguyên cám hay uống sinh tố không đồng nghĩa với việc đường huyết luôn ổn định - Ảnh: AI
Đường huyết tăng sau khi ăn là phản ứng bình thường của cơ thể, đặc biệt sau những bữa có carbohydrate. Mức tăng phụ thuộc vào loại và lượng carbohydrate, hoạt động thể chất, giấc ngủ, căng thẳng và khả năng đáp ứng insulin của từng người.
Điều đáng chú ý, một bữa ăn được xem là lành mạnh vẫn có thể khiến đường huyết tăng khá nhanh nếu khẩu phần quá lớn hoặc thiếu sự cân bằng giữa carbohydrate, protein, chất béo và chất xơ.
4 dấu hiệu cho thấy đường huyết có thể đang biến động mạnh
1. Vừa ăn xong đã nhanh đói trở lại
Cảm giác đói chỉ một thời gian ngắn sau bữa ăn có thể xuất hiện khi bữa ăn chứa nhiều carbohydrate nhưng lại thiếu protein và chất xơ.
Ví dụ, bữa sáng gồm yến mạch và trái cây hoặc bánh mì nguyên cám ăn cùng trái cây đều có thể là những lựa chọn tốt. Tuy nhiên, nếu gần như toàn bộ bữa ăn đến từ carbohydrate mà thiếu nguồn protein và chất béo phù hợp, một số người có thể tiêu hóa khá nhanh và sớm cảm thấy đói trở lại.
Khi carbohydrate được tiêu hóa, glucose đi vào máu và cơ thể tiết insulin để giúp đưa glucose vào tế bào. Ở một số người, sự thay đổi nhanh của đường huyết sau ăn có thể đi kèm cảm giác đói hoặc mệt mỏi.
Thay vì chỉ quan tâm món ăn có "healthy" hay không, hãy nhìn vào cả bữa ăn. Có thể kết hợp carbohydrate với trứng, cá, thịt nạc, đậu, sữa chua không đường, các loại hạt và rau để tăng protein, chất xơ và độ no.
2. Năng lượng lên xuống thất thường sau khi ăn
Một kiểu khá dễ nhận thấy là: vừa ăn xong cảm thấy tỉnh táo, tràn đầy năng lượng nhưng vài giờ sau lại uể oải, khó tập trung hoặc nhanh đói.
Điều này có thể xảy ra khi bữa ăn chứa nhiều carbohydrate dễ tiêu hóa, đặc biệt nếu ăn riêng mà không có đủ protein, chất xơ hoặc chất béo.
Chẳng hạn, một ly sinh tố chỉ gồm trái cây, một bát yến mạch với nhiều trái cây hoặc vài lát bánh mì dù đều có thể là thực phẩm bổ dưỡng, nhưng "bổ dưỡng" không có nghĩa là phù hợp với mọi người và mọi khẩu phần.
Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) lưu ý carbohydrate có ảnh hưởng đáng kể đến đường huyết; theo dõi đường huyết cùng những yếu tố như thực phẩm, vận động, căng thẳng và giấc ngủ giúp nhận biết món ăn nào đang khiến đường huyết tăng mạnh hơn ở mỗi người.
Nếu tình trạng mệt mỏi sau ăn lặp đi lặp lại, đặc biệt ở người đã được chẩn đoán tiền tiểu đường hoặc tiểu đường, việc ghi lại món ăn - khẩu phần - thời điểm ăn - mức đường huyết có thể giúp bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng tìm ra nguyên nhân.
3. Thường xuyên khát nước và đi tiểu nhiều
Đây là dấu hiệu cần chú ý hơn so với cảm giác đói hoặc mệt mỏi sau ăn.
Khát nước nhiều, khô miệng và đi tiểu thường xuyên có thể xuất hiện khi đường huyết tăng cao. Khi lượng glucose trong máu quá cao, thận phải tăng thải glucose qua nước tiểu, kéo theo nước và có thể dẫn đến mất nước. CDC Hoa Kỳ liệt kê khát nước và đi tiểu nhiều trong số những triệu chứng thường gặp của bệnh tiểu đường.
Nếu tình trạng này kéo dài hoặc đi kèm mệt mỏi, nhìn mờ, sụt cân không chủ ý, bạn nên kiểm tra đường huyết thay vì chỉ uống thêm nước. Người chưa từng được chẩn đoán tiểu đường nhưng xuất hiện nhiều triệu chứng kể trên nên đi khám để kiểm tra đường huyết.
4. Đau đầu xuất hiện sau những bữa ăn hoặc giai đoạn đường huyết biến động
Đau đầu có rất nhiều nguyên nhân như thiếu ngủ, căng thẳng, mất nước, tác dụng của thuốc hoặc đau đầu nguyên phát. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào đau đầu để kết luận đường huyết đang tăng.
Nếu đau đầu thường xuyên xuất hiện cùng khát nước, đi tiểu nhiều, mệt mỏi hoặc nhìn mờ, đặc biệt ở người có nguy cơ tiểu đường, nên kiểm tra đường huyết và trao đổi với bác sĩ.
Vài thay đổi đơn giản trong cách chế biến giúp bạn thoải mái thưởng thức cơm trắng mà không lo chỉ số đường huyết tăng vọt.
Nhiều người e ngại khi ăn cơm trắng do lo ngại nguy cơ tăng đường huyết. Tuy nhiên, bạn điều chỉnh một chút trong thói quen chế biến và thưởng thức thì có thể kiểm soát đường huyết.
Giải pháp trước tiên là tăng tỷ lệ tinh bột kháng trong khẩu phần ăn. Tạp chí y khoa Nutrition & Diabetes chia sẻ kết quả nghiên cứu tác dụng của tinh bột kháng trong cải thiện chỉ số đường huyết và tình trạng kháng insulin. Nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Tứ Xuyên (Trung Quốc) phân tích gộp từ 13 nghiên cứu liên quan đến bệnh tiểu đường. Kết quả cho thấy tiêu thụ tinh bột kháng giúp cải thiện đường huyết lúc đói, giảm kháng insulin, tăng độ nhạy insulin, đồng thời hạ chỉ số đường huyết trung bình (HbA1c) và cholesterol xấu (LDL).
Vậy làm thế nào để bổ sung tinh bột kháng vào chế độ ăn? Các chuyên gia khuyến nghị giảm lượng tinh bột thông thường và thay bằng đậu nành. Bác sĩ Lee Jin-bok, chuyên khoa Y học gia đình, giải thích đậu nành rất giàu tinh bột kháng và không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, do đó giữ nguyên được giá trị dinh dưỡng dù chế biến theo bất kỳ hình thức nào.
Một phương pháp khác đơn giản hơn là để cơm nguội bớt sau khi nấu. Trong quá trình cơm hạ nhiệt từ từ, tỷ lệ tinh bột kháng sẽ gia tăng. Trường hợp không thích dùng cơm nguội, bạn có thể hâm nóng lại vẫn giữ nguyên hiệu quả này.
Bổ sung các loại chất béo lành mạnh như dầu ô liu hoặc dầu bơ trong quá trình nấu hoặc khi ăn cơm cũng mang lại tác dụng tích cực. Chất béo có khả năng làm chậm tốc độ tiêu hóa carbohydrate, từ đó hạn chế đường huyết tăng sau khi ăn cơm trắng. Theo bác sĩ Lee Jin-bok, bạn có thể thêm 1-2 thìa canh dầu thực vật tốt vào nồi khi nấu khoảng nửa chén gạo, hoặc ăn kèm nửa quả bơ cùng cơm trắng.
Hiệu quả của mẹo nhỏ này đã được chứng minh qua một thử nghiệm lâm sàng chéo ngẫu nhiên do các nhà nghiên cứu Italy thực hiện trên 13 bệnh nhân tiểu đường. Kết quả cho thấy bổ sung dầu ô liu nguyên chất vào bữa ăn có chỉ số đường huyết cao giúp kiểm soát đường huyết ngay sau khi ăn tốt hơn hẳn so với bữa ăn ít chất béo hoặc có sử dụng bơ động vật.
Trường hợp chưa kịp áp dụng hai giải pháp chế biến trên mà lỡ ăn cơm trắng theo cách thông thường, bạn cũng không cần quá lo lắng. Đi bộ ngay sau bữa ăn là "lá chắn" giúp ngăn đường huyết tăng một cách hiệu quả.
Theo nghiên cứu từ Đại học Otago (New Zealand) thực hiện trên 41 bệnh nhân tiểu đường type 2, đi bộ 10 phút ngay sau bữa ăn (sáng, trưa và tối) giúp giảm mức tăng đường huyết sau ăn khoảng 12% so với chỉ tập trung đi bộ một lần 30 phút trong ngày.
Về cường độ, nên duy trì tốc độ đi bộ vừa phải, sao cho vẫn có thể trò chuyện thoải mái với người đi bên cạnh mà không bị hụt hơi.
Hiện nay đa số đều ăn uống nhiều chất, nhiều thực phẩm và ít vận động hơn nên nhiều người mới bị bệnh dạ dày (viêm loét, ăn ko tiêu, trào ngược, HP....), tích độc tố. Mà từ dạ dày bệnh thì sẽ dẫn đến các cơ quan nội tạng khác bệnh theo mà nguyên nhân chính là do ăn không tiêu gây lên. Vậy chữa dạ dày khỏi thì các bệnh kéo theo cũng khỏi.
Việc uống chanh muối về cơ bản chữa được bệnh là do làm sạch được hệ tiêu hoá, tổng được độc tố dư thừa ra.
Ngoài ra những người bị dạ dày thì acid dạ dày thường cao mà chanh vào cơ thể do tác dụng với một số khoáng chất tạo kiềm nên vô tình trung hoà được acid dạ dày, nên nhiều người đã khỏi.
Vấn đề ở đây là: Khi người ta đã khỏi rồi, thì nên duy trì sử dụng ở lượng hỗ trợ sức khoẻ chứ không phải là liều cao để thải độc tiếp, thải độc mãi như vậy.
Độc tố vào cơ thể thì cũng qua 2 con đường chính: ăn uống + hít thở
Vậy mình hãy điều chỉnh lại 2 yếu tố này sao cho hợp lý và cách thải độc tốt nhất chính là sống lành mạnh, ăn uống điều độ, ngủ nghỉ hợp lý, vận động thường xuyên và tránh nạp thêm chất độc từ bên ngoài. Đây là cách bền vững và an toàn để cơ thể tự thanh lọc.
Khi cơ thể đã hết bệnh tức là đã ở "ngưỡng cân bằng" mà vẫn còn lạm dụng sử dụng liều cao thì bắt đầu mới xảy ra thừa. Mà việc thiếu hay thừa đều là nguyên nhân gây bệnh.
Mỗi người lại có một cái ngưỡng cân bằng khác nhau, không ai giống ai nên không thể nói là tôi dùng nhiều có sao đâu?
Bạn HA cao, bạn thừa máu, thừa mỡ, bạn ít vận động nên bụng lúc nào cũng ậm ạch... thì bạn phải dùng cao hơn người khác.
Có những người chỉ là ăn uống không tiêu bình thường thì dùng ít hơn là đã ổn rồi.
Thế nên mới có chuyện người này dùng thì thấy khoẻ re, người kia dùng thì tụt áp, mất máu, hoa mắt chóng mặt, sút cân, ê răng...
Nguyên nhân là dùng mà ko biết ngưỡng cân bằng của cơ thể để điều chỉnh liều lượng, ít hay nhiều.
Cơ thể của bạn có giống người ta không mà dùng liều cao như người ta?
Quan trọng là khi đã khỏi tức là cơ thể đạt ngưỡng cân bằng thì ko nên dùng liều cao nữa mà chỉ dùng ở mức duy trì dùng để hỗ trợ tiêu hoá, kiềm hoá nhẹ nhàng thôi.
ĐÔNG Y nói mãi: chất chua bổ gan nhưng chua quá thì hại gan, mặn bổ thận nhưng mặn quá hại thận, ngọt bổ tì nhưng ngọt quá lại hại tì...
Bạn ăn nhiều mà không thấy hại gì có thể bạn vẫn đang thiếu, chưa đạt ngưỡng cân bằng nên chưa thấy gì hoặc cơ thể đang cố cảnh báo cho bạn những dấu hiệu nhỏ mà bạn không biết!
Chất chua nào cũng đi vào gan hết! Không có chuyện chua của chanh là ngoại lệ, dùng nhiều mà không sao!
Nếu ngoại lệ thì ai dùng cũng phải tốt hết, khỏi hết chứ không có chuyện người tốt, người hại.
Mà tự nhiên nhớ ra cái vụ người ta làm sạch lòng mề gà ấy. Có phải họ cho chanh và muối vào rồi bóp không? Cuối cùng là cái lòng mề mỏng đi và sạch trơn. Nếu tưởng tưởng mấy cái nếp gấp trong dạ dày mình cũng lạm dụng nhiều như vậy thì sao?
▪︎ Tóm lai: Quan trọng là phải nhận ra được ngưỡng cân bằng của cơ thể - tức là lúc cơ thể khỏi bệnh rồi thì biết đường mà thay đổi lối sống cũ đã làm mình bị bệnh, điều chỉnh lại ăn uống cân bằng, ngủ nghỉ, vận động, lối sống hợp lý...!
1. Tính chất của chanh theo Âm Dương – Ngũ Hành
• Vị chua → thuộc Mộc, đi vào can – đởm (gan – mật).
• Tính hàn (mát, lạnh) → thuộc Âm, làm hạ nhiệt, giảm hỏa.
• Có tác dụng thu liễm (co rút), làm se cơ, se lỗ chân lông, giảm tán khí.
2. Lợi ích khi dùng chanh vừa phải
Kích thích tiết mật, hỗ trợ gan → tốt cho người ăn nhiều thịt mỡ.
Giải nhiệt, giải khát, nhất là khi bị nóng trong, bứt rứt.
Giảm axit dạ dày tạm thời, nếu dùng với chút mật ong, đường cát vàng.
Làm mềm mạch máu và giúp tan một phần mảng bám cholesterol (theo kinh nghiệm dân gian).
Tăng vị chua kích thích tiêu hóa cho người có tỳ vị hư nhược nhưng bị đầy trệ do ăn nhiều chất béo.
Dùng tốt nhất:
• Lượng vừa (vài lát mỏng hay 3–5 ml nước cốt/lần).
• Pha với nước ấm + đường cát vàng + chút muối → giúp cân bằng âm dương, không làm hạ đường huyết đột ngột.
3. Tác hại khi dùng quá nhiều chanh chua
Theo thầy Đỗ Đức Ngọc, vị chua – tính hàn sẽ gây mất quân bình âm dương nếu lạm dụng:
Hại tỳ vị – dạ dày
• Vị chua quá làm tỳ vị (thuộc Thổ) bị khắc, gây lạnh bụng, đầy hơi, tiêu chảy.
• Tăng tiết dịch vị → đau dạ dày, viêm loét.
Giảm đường huyết
• Chanh chua làm hạ đường huyết nhanh → gây run tay, chóng mặt, lạnh người.
• Đặc biệt nguy hiểm cho người tỳ vị hàn, huyết áp thấp, hay bị chân tay lạnh.
Làm khí huyết bị co rút
• Tính thu liễm làm máu khó lưu thông lên đầu, vùng chẩm, dễ nhức đầu, chóng mặt.
• Làm cơ bắp gân gối bị co cứng nếu dùng nhiều khi trời lạnh.
Gây hại men răng, loãng xương (do axit kéo calci ra ngoài).
4. Cân bằng khi muốn dùng chanh
• Pha chanh với đường cát vàng (thuộc Thổ, dương) → cân bằng lại tính âm hàn của chanh.
Bắt đầu vào mùa của " Rau Củ". Các loại rau củ đều mơn mởn, tươi tốt. Ngoài ăn tươi sống, các món "Muối" cũng thật tuyệt với. Kiểu tây kiểu ta chúng ta cũng đã từng thử qua. Nay làm quen với kiểu Nga nhé các bạn!
*Mười ngày ở Nga cũng đã cho mình một chút trải nghiệm và cũng phải công nhận, mình chưa bỏ món nào. Nhưng ở Pháp mình đã bỏ món Gà hầm vì quá mặn và bánh táo vì quá chua. Nhưng croissant loại nhỏ xíu thật tuyệt vời (Chỉ với mình thôi nha! - Tất cả đều ở nhà hàng) Hihi...😀
Cho 1 lít nước vào soong. Lần lượt cho đường + muối vào soong, Bắc lên bếp nấu lửa vừa, khuấy cho tan. Khi nước nóng cho dầu ăn vào, và khi nước sôi, tắt bếp cho hết giấm vào khuấy nhẹ, để nguội.
Xếp bắp cải vào keo, đến củ dền rồi cà rốt. Bên trên là tỏi, tiêu và lá bay. Rót hết nước giấm vào keo rồi đậy lại.
Để 12 tiếng là ăn được rồi nha các bạn!
Nhớ thử nhé!
Bichnga biên soạn theo Pinteresr
* Tiêu các bạn thay bằng hạt thì là hay hạt ngò cũng thơm lắm. À! Nhớ rang nhẹ các hạt sẽ thơm lắm đấy!
Trứng là thực phẩm giàu
protein (đạm), tương đối ít calo và cung cấp các dưỡng chất cần thiết,
hỗ trợ hiệu quả nhiều mục tiêu sức khỏe khác nhau.
Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, một quả trứng cỡ lớn chứa khoảng
72 calo, 5g chất béo, dưới 1g carbohydrate và dưới 1g chất xơ, cùng 24mg
canxi, 0,8mg sắt, 5,7mg magie, 66mg kali và 65mg natri. Một quả trứng
luộc cỡ lớn cung cấp khoảng 6,28g protein, tương đương 13% giá trị dinh dưỡng cần thiết hằng ngày.
Thời điểm tốt nhất để bổ sung protein: Buổi sáng
Protein góp phần xây dựng cơ bắp, hỗ trợ duy trì các mô và nhiều chức
năng quan trọng của cơ thể. Nhu cầu protein hằng ngày phụ thuộc vào
tuổi, cân nặng, giới tính, mức độ vận động và mục tiêu sức khỏe.
Theo The Science of Health, nếu bạn muốn tăng cường protein,
buổi sáng là thời điểm phù hợp để ăn trứng. Protein trong trứng được
hấp thụ tương đối chậm, duy trì cảm giác no và hạn chế đói, thèm ăn.
Cách chế biến cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ protein. So
với trứng sống, nhiệt từ quá trình nấu chín giúp cơ thể hấp thụ protein
dễ dàng hơn, đặc biệt ở người lớn tuổi. Tuy nhiên, lượng protein không
thay đổi đáng kể giữa trứng luộc, trứng bác hay các cách chế biến khác.
Thời điểm tốt nhất để tăng cơ: Sau khi tập luyện
Với người tập luyện nhằm tăng cơ, ăn trứng sau khi tập hoặc vào cuối ngày có thể mang lại lợi ích.
Protein từ trứng hỗ trợ quá trình tổng hợp protein cơ, tức quá trình
cơ thể xây dựng và phục hồi mô cơ sau vận động. Ăn trứng sau tập cũng
góp phần bổ sung glycogen - nguồn đường dự trữ cung cấp năng lượng cho
cơ bắp.
Không chỉ lòng trắng, lòng đỏ trứng cũng có giá trị đối với người
muốn phát triển cơ. Lòng đỏ chứa chất béo lành mạnh và các dưỡng chất
tham gia vào quá trình sản xuất hormone, vốn có vai trò trong xây dựng
cơ bắp.
Thời điểm tốt nhất để kiểm soát cân nặng: Buổi sáng
Nhờ giàu protein nhưng tương đối ít calo, trứng thường được đưa vào
chế độ ăn kiểm soát cân nặng. Một nghiên cứu trên người trưởng thành
thừa cân hoặc béo phì cho thấy những người ăn trứng vào bữa sáng cảm
thấy ít đói và ít thèm ăn hơn. Họ cũng tiêu thụ ít calo hơn so với nhóm
ăn bữa sáng giàu carbohydrate.
Bên cạnh đó, trứng là thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp, không
khiến đường huyết tăng nhanh. Khi kết hợp với các thực phẩm giàu protein
khác trong bữa sáng, trứng có thể hạn chế những biến động đường huyết.
Không phải Món Chay nào cũng kém phần hấp dẫn. Mời các bạn nếm thử món Tàu Hũ này nhé!
Nguyên liệu
10 miếng tàu hũ chiên nhỏ 5x5 cm.
2 miếng sườn chay ngâm nở, vắt ráo. xé nhỏ
10g nấm mèo ngâm nở
Một ít hạt bắp Mỹ, đậu bo
1/3 chén cà bột
2m bột nêm chay, 1m bột năng, 1m đường, 1/4m tiêu, 1M hành lá / lá boa rô
1M dầu ăn, muối
Cách làm
Dùng 1 vật tròn nhỏ hơn bề mặt miếng tàu hũ, lấy dấu, rồi khoét một vòng tròn, lấy tàu hũ ra ngoài.
Xay phần tàu hũ đã lấy ra + sườn chay + nấm mèo cho nhuyễn.
Cho 1m bột nêm + 1/2m đường + tiêu + chút xíu muối vào hỗn hợp, trộn đều.
Chia hỗn hợp này thành 10 phần rồi vo tròn lại, rồi cho vào phần lõm của miếng tàu hũ. Dùng bàn tay ép nhẹ xuống, rồi xếp hạt bắp và boa rô trang trí cho miếng tàu hũ.
Bắc xửng nấu nước sôi, rồi cho tàu hũ vào hấp chín, khoảng 15 phút.
Pha loãng cà bột với nước. Phi chút boa rô cho thơm, cho bột cà pha loãng vào. Cho thêm bột nêm + đường cho sôi. Xếp tàu hũ vào chảo sốt cà, áo đều, để lửa riu riu khoảng 5 phút.
Ngô không chỉ là thực phẩm quen thuộc mà còn mang lại nhiều lợi ích sức khỏe vượt trội nhờ nguồn dinh dưỡng đa dạng.
Bác sĩ Nguyễn Thùy Ngân, Viện Nghiên cứu phát triển Y dược Cổ truyền
Việt Nam cho biết một bắp ngô ngọt (ngô vàng) luộc nặng khoảng 118g chứa
chừng 113g calo, 24,8g carbohydrate, 2,8g chất xơ, 5,4g đường và 1,8g
chất béo. Bên cạnh đó, thực phẩm này còn bổ sung hàng loạt vitamin A, E,
K, choline, canxi, selen cùng các axit béo omega-3 và omega-6 cần
thiết.
Nguồn chống oxy hóa phong phú
Các màu sắc khác nhau của hạt ngô thể hiện sự kết hợp đa dạng các loại dưỡng chất
thực vật. Trong đó, ngô vàng là nguồn cung cấp dồi dào chất chống oxy
hóa carotenoid, đặc biệt là lutein và zeaxanthin. Các loại ngô khác cũng
chứa anthocyanin, axit protocatechuic, axit hydroxybenzoic,
beta-carotene, axit caffeic và axit ferulic.
Chất chống oxy hóa carotenoid hỗ trợ hệ miễn dịch, đồng thời bảo vệ
mắt và da khỏi trạng thái stress oxy hóa. Dù nhiều chất chống oxy hóa
nhạy cảm với nhiệt độ, việc sấy ngô chậm ở nhiệt độ thấp theo cách
truyền thống vẫn duy trì được phần lớn giá trị dinh dưỡng.
Giống như các loại thực phẩm thực vật nguyên hạt, ngô cung cấp lượng
chất xơ dồi dào với tỷ lệ cân bằng giữa chất xơ hòa tan và không hòa
tan. Chất xơ không hòa tan di chuyển khắp hệ tiêu hóa mà không bị hấp
thụ, giúp hoạt động đi đại tiện diễn ra dễ dàng.
Chế độ ăn truyền thống tăng cường rau xanh, ngô, khoai sắn giúp cơ thể khỏe mạnh.
Trong khi đó, chất xơ hòa tan đi xuống phần dưới đại tràng và được vi
khuẩn đường ruột chuyển hóa thành các axit béo chuỗi ngắn (SCFA). SCFA
nuôi dưỡng vi khuẩn có lợi, tạo hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh và
cung cấp năng lượng cho các tế bào lót đại tràng. Quá trình này tạo điều
kiện cho nhu động ruột hoạt động đều đặn, đào thải chất thải cùng độc
tố, hỗ trợ ngăn ngừa các bệnh nguy hiểm như ung thư đại tràng.
Chống tiểu đường, kiểm soát huyết áp
Hiện nay, trên phạm vi toàn cầu, tình trạng béo phì, tăng huyết áp và
kháng insulin đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở những cộng đồng
chuyển sang áp dụng chế độ ăn phương Tây nhiều năng lượng rỗng, đường
tinh luyện, ngũ cốc tinh chế và đồ uống có đường. Các nghiên cứu quốc tế
cho thấy, sự thay đổi này làm gia tăng nguy cơ bệnh tật so với chế độ
ăn truyền thống vốn dựa trên ngũ cốc nguyên hạt, ngô, đậu và rau.
Nhiều chuyên gia dinh dưỡng khẳng định, việc quay trở lại các mô hình
ăn uống truyền thống, trong đó bổ sung nhiều rau củ, ngô, khoai… sẽ cải
thiện sức khỏe, nhờ cân bằng năng lượng hợp lý và cung cấp các chất
dinh dưỡng có lợi với tiềm năng chống tiểu đường, chống oxy hóa và hỗ
trợ kiểm soát huyết áp.
Thúc đẩy sức khỏe của mắt
Ngô giàu carotenoid, chẳng hạn như lutein và zeaxanthin, là những
chất chống oxy hóa có tác dụng bảo vệ võng mạc và thủy tinh thể. Các hợp
chất này có liên quan chặt chẽ với việc giảm nguy cơ thoái hóa điểm
vàng do tuổi tác và có thể ngăn ngừa đục thủy tinh thể.
Hỗ trợ sức khỏe tim mạch
Loại thực phẩm phổ biến này cung cấp các chất dinh dưỡng có lợi cho
sức khỏe tim mạch. Chất xơ giúp giảm cholesterol LDL, các khoáng chất
như kali và magie hỗ trợ huyết áp khỏe mạnh và đặc tính chống oxy hóa
(đặc biệt là carotenoid và hợp chất phenolic) giảm viêm, một yếu tố nguy
cơ chính gây bệnh tim.
Có thể hỗ trợ điều trị viêm tuyến tiền liệt
Một số thành phần của loại cây trồng này, đặc biệt là chiết xuất từ
ngô tím và râu ngô, cho thấy hoạt tính kháng viêm, có thể hỗ trợ điều
trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt và viêm mô tuyến tiền liệt. Ví dụ,
chiết xuất ngô tím đã được chứng minh trên mô hình động vật có tác dụng
làm giảm phì đại tuyến tiền liệt, điều hòa tín hiệu androgen và giảm
các dấu hiệu viêm. Tuy nhiên, tác dụng trên cần nhiều nghiên cứu hơn
trên người.
Mùa mưa, chanh rẻ nhưng thiếu nắng, mà bạn muốn làm Chanh Muối thì phải làm sao? Hãy chọn làm chanh Kỹ thuật Muối Chanh Kiểu Người Hoa, đó là sự lựa chọn thích hợp nhất! Các bạn xem nha!
Nguyên liệu
1kg chanh giấy / ta.
300g muối hột
1 cái hũ sành hoặc keo thủy tinh.
Cách làm
Rửa sạch chanh để ráo.
Cho 200g muối hột vào chà nhẹ, tư từ cho ra bớt hăng, nhưng không làm trầy chanh, cho đến khi chanh ngả màu xanh.
Dùng dao chẻ trái chanh ra làm 4 khía, chỉ xẻ 3/4 trái chanh, rồi nhét phần chanh còn lại vào giữa trái chanh cho đến hết.
Xếp chanh vào keo/ hũ. Đậy nắp kín, để chỗ mát. Và chờ... 3 năm sau mới được dùng.
Lúc đó chanh có màu hổ phách thật đẹp. Trái chanh tươm mật và dẻo quẹo.
- Làm ly chanh muối với với đá đường, mật ong ngày nắng nóng.
Một số bộ phận thường bị bỏ đi của bắp ngô như râu và mầm ngô chứa nhiều dưỡng chất đáng chú ý, tốt cho sức khỏe.
Giá trị dinh dưỡng
Theo PudMed, ngô cung cấp tinh bột, chất xơ, vitamin, khoáng
chất và nhiều hợp chất thực vật. Một bắp ngô cả lõi nặng khoảng 200g có
khoảng 6g chất xơ - loại chất góp phần tăng cảm giác no, hỗ trợ hoạt
động của hệ tiêu hóa và có thể làm chậm quá trình hấp thu carbohydrate.
Ngô cũng giàu kali, khoảng 238mg/100g. Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ,
kali có thể giảm tác động của natri và hỗ trợ thư giãn thành mạch, qua
đó góp phần kiểm soát huyết áp.
Bên cạnh đó, ngô chứa vitamin B2 và carotenoid. Vitamin B2 cần thiết
cho sức khỏe da và niêm mạc trong khi các carotenoid như lutein và
zeaxanthin được quan tâm đối với sức khỏe mắt.
Ngô là thực phẩm dân dã nhưng có nhiều công dụng với sức khỏe. Ảnh: Ban Mai
Nghiên cứu của nhóm tác giả Đại học Chicago (Mỹ) cho thấy zeaxanthin
có trong ngô tăng cường hoạt động của tế bào T chống lại tế bào ung thư.
Tuy nhiên, đây mới là kết quả đánh giá trên chuột, chưa thể kết luận ăn
ngô có khả năng phòng ngừa hoặc điều trị ung thư ở người.
Ngô chứa glutathione và selen có liên quan đến hệ thống chống oxy hóa
của cơ thể. Các chất này góp phần hỗ trợ cơ thể chống lại stress oxy
hóa, bảo vệ tế bào trước tác động của các gốc tự do. Tuy nhiên, mức độ
đóng góp cụ thể của ngô vào khả năng chống oxy hóa của cơ thể còn phụ
thuộc vào khẩu phần và tổng thể chế độ ăn.
Hai phần thường bị bỏ qua
Râu ngô
Râu ngô thường bị bỏ đi khi sơ chế nhưng đây là bộ phận chứa nhiều
hợp chất thực vật đáng chú ý. Theo y học cổ truyền Trung Quốc, bộ phận
này được sử dụng với mục đích lợi tiểu và giảm phù. Nghiên cứu hiện đại
cho thấy râu ngô chứa flavonoid, polyphenol, axit phenolic và nhiều hợp
chất thực vật khác có tiềm năng chống oxy hóa.
Nghiên cứu trên động vật cũng ghi nhận chiết xuất râu ngô có tác dụng
tăng lượng nước tiểu và thúc đẩy quá trình bài tiết. Tuy nhiên, những
kết quả này chủ yếu được ghi nhận trong nghiên cứu tiền lâm sàng, chưa
đủ bằng chứng để khẳng định uống nước râu ngô có thể đào thải axit uric
hoặc phòng ngừa sỏi thận ở người. Vì vậy, người dân không nên xem nước
râu ngô là phương pháp thay thế cho điều trị y tế.
Mầm ngô
Mầm ngô - phần nhỏ màu vàng nhạt nằm ở gốc hạt là bộ phận giàu chất
béo và tập trung nhiều dưỡng chất. Theo một tổng quan đăng trên PMC, mầm chỉ chiếm khoảng 9-11% trọng lượng hạt nhưng chứa khoảng 80-84% tổng lượng dầu của hạt.
Ngoài ra, mầm ngô chứa protein, vitamin E, phytosterol và
phospholipid, là những dưỡng chất và hợp chất thực vật có giá trị. Trong
đó, phytosterol được quan tâm bởi khả năng cạnh tranh với cholesterol
tại đường ruột, từ đó có thể làm giảm lượng cholesterol được hấp thu vào
cơ thể.