Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

DƯA MẮM

Món dưa mắm ngon miệng, nhất là kèm theo ít miếng thịt luộc ăn với cơm nóng lại càng tuyệt vời hơn.

Nguyên liệu


3 quả dưa leo
3M muối hột
1-2 trái ớt 
5 tép tỏi
1/2 chén nước mắm
1/2 chén đường nâu
nước màu (nước hàng)

Cách làm


Rửa sạch dưa leo, để ráo.
Chẻ đôi quả dưa theo chiều dọc.
Xắt xéo dưa thành từng miếng dày cỡ 1 cm.
(có thể bỏ hột dưa nếu thích)
 Xóc đều dưa với muối , để 1 tiếng cho dưa thấm muối.
Tỏi bóc vỏ, bằm nhỏ. Ớt tươi rửa sạch, bỏ hạt, cắt lát.
Rửa lại dưa cho bớt mặn, ngâm trong nước lạnh khoảng 20 phút để dưa chuột bớt mặn và giòn.
Đun sôi 100 ml nước +  đường +  nước mắm (tùy vào khẩu vị  thêm hoặc bớt mắm, đường cho phù hợp). Hỗn hợp sôi, hạ lửa, nấu thêm 5 phút cho nước mắm đường hơi keo lại, cho nước hàng, tắt bếp, để nguội.
Vắt ráo dưa, trộn cho dưa với tỏi, ớt + nước mắm trong 1 cái thố cho đều.
Trút hết thố dưa vào keo, đậy nắp kín. Hôm sau cho vào tủ lạnh để ăn dần. 
Bichnga

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

7 cách bố thí

Đức Phật dạy 7 cách bố thí
 Bạn không tốn một đồng nào lại giúp bạn gặp vận may cả đời




Một người nghèo chạy đến phía trước Đức Phật vừa khóc vừa hỏi Ngài:
“Tại sao con làm việc gì cũng không thành công, đó là do duyên cớ gì ạ?”
Đức Phật nói với anh ta: “Đó là bởi vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.”
Người kia thưa: “Nhưng con là một người nghèo khó không có tiền, làm sao có thể bố thí!”
Đức Phật dạy: “Đều không phải như thế. Một người cho dù hoàn toàn không có tiền, vẫn có thể cho người khác 7 thứ:
1. Diện thí – Cho đi bằng nét mặt. Chúng ta có thể cho đi nụ cười niềm nở đến những người xung quanh hàng ngày mà mình gặp trong cuộc sống.
2. Ngôn thí – Cho đi bằng lời nói. Chúng ta có thể nói nhiều những lời nói ấm áp, khiêm nhường, khen ngợi, an ủi, khích lệ, cổ vũ và động viên người khác.
3. Tâm thí – Cho đi bằng tấm lòng. “Sưởng khai tâm phi, thành khẩn đãi nhân”, có nghĩa rằng mở rộng tấm lòng, chân thật, thành tâm đối đãi với người khác.
4. Nhãn thí – Cho đi những ánh mắt, những cái nhìn hiền từ. Dùng ánh mắt thiện ý để nhìn người khác.
5. Thân thí – Cho đi bằng hành động nhân ái. Dùng hành động nhân ái để đi giúp đỡ người khác.
6. Tọa thí – Cho đi bằng nhường chỗ ngồi cho người cần. Khi đi xe hay trên thuyền có thể nhường chỗ ngồi của mình cho người cần.
7. Phòng thí – Bố thí nơi ở: Đem phòng còn trống cho người khác nghỉ ngơi.
Cuối cùng Đức Phật nói: “Cho dù là ai, chỉ cần tập thành 7 thói quen này thì vận may sẽ đi theo “như hình với bóng”!
Đức Phật nói với chúng ta hạnh của bố thí có rất nhiều cách, chỉ cần dùng chân tình và thiện tâm là có thể làm được.
Ví như trong cuộc sống hàng ngày, mưu sinh kiếm tiền nuôi gia đình, kỳ thực nuôi gia đình cũng là một dạng bố thí!
Nếu như bạn cảm nhận thấy bản thân là làm trâu làm ngựa, hay kiếm tiền trả khoản nợ nào đó cho người ta, thế thì chính là bạn đang ôm giữ trong lòng một bụng khí oán giận, bạn sẽ cảm nhận thấy cuộc sống rất khổ! Một khi bạn chuyển ý niệm đầu tiên “nuôi gia đình” thành là bố thí, là cho đi, là chăm sóc, nuôi dưỡng, cung phụng; bạn là cần cho gia đình này, gia đình này cần bạn và bạn là đang cho đi, đang bố thí, đang cung phụng nuôi dưỡng mọi người trong nhà, khi đó bạn sẽ cảm thấy ấm áp nhẹ nhàng và vui vẻ thoải mái.
Đây chính là giác ngộ và trong mê, tỉnh và thức, khi mê thì thấy rõ ràng xác thực là như bị đòi nợ, trả nợ, một khi giác ngộ ra rồi thì không phải là đòi nợ, trả nợ nữa mà là thực hành bố thí, cung phụng phụng dưỡng cho đi.
Đừng tưởng rằng đến đền chùa bỏ một chút tiền vào đó mới là bố thí, bởi vì trong vô lượng phương diện bố thí thì bạn mới chỉ hiểu được có một mặt. Bạn có biết rằng, trong cuộc sống thường nhật hàng ngày, hết thảy các hành động và việc làm của chúng ta đều là bố thí, là cung phụng, phụng dưỡng.
Thí dụ như bạn sắp xếp thu dọn nhà cửa gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ giúp cho cuộc sống những người trong cả nhà được thoái mái, dễ chịu, thì chính là bạn đang tu dưỡng bố thí trong gia đình. Bạn là đang thực hành hạnh Bồ Tát Đạo! Tại công ty bạn tận lực tận tâm làm việc đó là hạnh bố thí trong công việc, và là cung phụng, cung dưỡng đối với xã hội.
Chúng ta có đủ khả năng khởi lên những niệm đầu này, chúng ta sẽ sống tự tại!
Chúng ta vất vả chăm chỉ làm việc, có thể tính là không nhận được quyền lợi gì tới mình, nhưng cũng sẽ không còn cảm thấy khó sống, tại sao lại thế ? Bởi vì chúng ta bằng sức lao động và bằng chính thể lực, trí tuệ của bản thân mình để bố thí, cung phụng, phụng dưỡng cho người, cho nên tâm chúng ta hoan hỷ hài lòng và sẽ vô cùng vui vẻ.
Chúc bạn có thể tu thành hạnh bố thí, cung phụng. Trên bề mặt trước mắt nếu mà bạn có thể chưa thấy ngay được phúc báo, nhưng rồi quả của nó sẽ báo đáp không thể nghĩ bàn. 
Đó chính lời Phật dạy.
THICH TUE MINH

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2016

Lịch sử ngày Tết Đoan Ngọ

Tết Đoan Ngọ còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau là một trong những ngày Tết truyền thống tại Việt Nam, Triều Tiên, Trung Quốc.

Tết Đoan Ngọ, ngày của sự tri ân
Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, Tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng Năm là một trong những ngày lễ tưởng nhớ tới tổ tiên do đó trong số các vật phẩm dâng cúng không thể thiếu bánh tổ (tổ tiên). Đặc biệt, đây còn là ngày lễ thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam, đó là ngày giỗ Quốc mẫu Âu Cơ.
nguon-goc-tet-doan-ngo

Ăn rượu nếp và các loại quả có vị chua, chát để cho bệnh tật tiêu trừ, trùng độc, sâu bọ sẽ chết…
Nếu như mồng 7 tháng Giêng là ngày tế mẫu với câu ca: “Mồng Bảy trong tiết tháng Giêng/Dân hiền tế lễ trống chiêng vang trời/ Anh em Bách Việt ta ơi/ Ngày xuân thong thả tới nơi xem tường/ Ấy ngày hội tế Mẫu Vương/ Người sinh nòi giống Nam phương đó mà” thì cứ đến gần ngày mồng 5 tháng Năm dân gian lại nhắc nhau bằng câu ca dao: “Tháng Năm nhớ Tết Đoan Dương/ Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang”. Tết Đoan Ngọ còn là ngày lễ thể hiện tính nhân văn giữa người với người, sự biết ơn của con cháu với ông bà, cha mẹ, người bệnh với thày thuốc, học trò với thày giáo nên có tục học trò đi tết thày, con rể đi tết bố mẹ vợ… Trong dân gian có câu ca dao rằng: “Mồng 5 ngày Tết không đáo đến cửa nhà thờ/ Còn hiếu trung chi nữa mà chờ rể, con”.
Dân gian còn cho rằng vào ngày này, các loài rắn đều lẩn trốn đi hết nên mới có câu thành ngữ “len lét như rắn mồng 5”.
 
Vì sao Tết Đoan Ngọ còn gọi là Tết giết sâu bọ?
Với người Việt, Tết Đoan Ngọ là thời điểm giữa năm, thời tiết chuyển mùa nên dễ sinh bệnh dịch, do đó có các nghi thức trừ tà, tránh bệnh như tắm nước lá mùi, treo cây ngải cứu trừ ma quỷ, đeo “bùa tui bùa túi”, nhuộm móng tay, móng chân rồi uống các nước giải độc (nấu từ lá ích mẫu, vối, cối xay, gừng…), uống rượu xương bồ, ăn rượu nếp và các loại quả có vị chua, chát để cho bệnh tật tiêu trừ, trùng độc, sâu bọ sẽ chết… Cho nên tết này còn gọi là Tết giết sâu bọ, là một nghi thức nhằm cân bằng âm dương.
Một số nghi thức trong Tết Đoan Ngọ của người Việt cũng mang dấu ấn của văn hóa nông nghiệp, có thể thấy qua một số tục lệ như tục khảo cây lấy quả được tiến hành đúng giờ Ngọ (12 giờ trưa). Một người leo lên cây, một người đứng dưới gốc cầm dao tra hỏi tại sao cây ra ít quả (hoặc không ra quả), nếu cứ như vậy sẽ bị chặt hạ. Người trên cây giả giọng van xin, hứa trong mùa tới sẽ ra thật nhiều quả. Sau đó người ở dưới hỏi số lượng quả mà cây sẽ sinh trưởng, người phía trên đại diện cho cây trả lời nhiều hay ít tùy theo loại cây và ước vọng của người trồng…


Đoan Ngọ là tết Ta hay Trung Quốc? Cho đến nay nhiều người vẫn nhầm lẫn Tết Đoan Ngọ có nguồn gốc từ Trung Quốc và xuất phát từ việc tưởng nhớ đến cái chết của Khuất Nguyên – một vị quan của nước Sở cách đây hơn 2.000 năm. Chính vì thế mà nhà thơ trào phúng Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ) từng viết rằng: “Cái cụ Khuất bên Tàu/ Chết từ hồi tam tổ/ Có quan hệ gì ta/ Mà sao phải ăn giỗ/ Mồng 5 khỏe ăn càn/ Mồng 6 ốm nhăn nhó/ Có lỡ chết bỏ đời/ Thì lại cho tại số”.
Ngay người Trung Quốc đến nay vẫn chưa thống nhất trong việc giải thích nguồn gốc của ngày tết này, có người cho rằng một số lễ tết của Trung Quốc như mồng 2/2 âm lịch (Lễ Đầu Rồng), mồng 5/5 (Tết Đoan Ngọ)… liên quan đến sự sùng bái thiên văn thời nguyên thủy. Cụ thể là chòm sao Thương long, vào ngày hạ chí mọc ở chính nam (thuộc dương vị) nên có tục tế Thương long, đây là phát khởi của Tết Đoan Ngọ.
Theo sách Các ngày lễ tết và sự bắt nguồn của các ngày lễ tết ở Trung Quốc cho biết, trước thời Tần, Hán thì ngày Tết Đoan Ngọ không cố định vào ngày mồng 5/5 mà vào ngày hạ chí, ngày dương khí cực thịnh nên còn được gọi là Tết Đoan Dương…
Thực ra Tết Đoan Ngọ có từ trước khi xảy ra câu chuyện của Khuất Nguyên, và xuất phát từ văn hóa của cộng đồng người Bách Việt cổ mà người Lạc Việt, tổ tiên của chúng ta là một bộ phận cấu thành của cộng đồng đó.


Chúng ta có thể thấy được điều này từ chính tên gọi của Tết Đoan Ngọ. “Đoan” nghĩa là “nhất”, “Ngọ” được hiểu giữa trưa vì thế Tết Đoan Ngọ thường được cử hành vào giữa trưa. Nếu theo thuyết âm dương ngũ hành thì nước ta nằm ở phương Nam, vùng đất nóng nên “Ngọ” được xếp vào quẻ Ly, thuộc hành Hỏa và trong một ngày thì dương khí cao nhất là giờ Ngọ (thời điểm giữa ngày); trong một tháng, dương khí cao nhất vào những ngày Ngọ, nhất là ngày Ngọ thượng tuần (đầu tháng). Trong một năm, dương khí cao nhất vào tháng Ngọ (tháng giữa năm, tức tháng 5). Như vậy, dương khí đạt cực điểm vào giờ Ngọ của ngày Ngọ đầu tiên trong tháng Ngọ, đây chính là thời điểm giữa năm vì thế trong dân gian nó còn được gọi là Tết giữa năm.
Điều thú vị là nếu xét theo âm lịch mà Việt Nam, Trung Quốc… vẫn đang sử dụng như hiện nay thì giữa năm phải là một ngày của tháng 6 âm lịch chứ không thể ngày là ngày mồng 5 tháng 5 được. Vì vậy nguồn gốc của ngày giữa năm mồng 5 tháng Năm chính là theo một loại lịch cổ của người Bách Việt được xây dựng trên cơ sở văn hóa nông nghiệp.


Điều này hiện vẫn để lại một số dấu tích như qua cách gọi tên tháng (Một, Chạp, Giêng, Hai…), hay những từ chỉ ngày đầu tháng là “mồng” (mồng một, mồng hai…), ngày giữa tháng là “rằm” (gần âm với ngôn ngữ một số dân tộc như “ranam” (tiếng Chăm), “sạc klam” (Khmer), “Klam” (Bana)… đều chỉ ngày có đêm trăng sáng nhất).
Lịch cổ của người Bách Việt còn thể hiện qua cách gọi bằng hệ đếm can chi. Trái với những suy nghĩ quen thuộc cho rằng hệ can chi có nguồn gốc từ Trung Quốc, nó lại có nguồn gốc từ phương nam nông nghiệp. Tên gọi các con vật (hệ chi) trong tiếng Hán chỉ là từ phiên âm của những từ trong nền văn hóa phương nam.
Ví dụ trong tiếng Chứt, tiếng Mường (những ngôn ngữ gần với tiếng Việt nhất) “sửu” được gọi là “klưu”, “tlưu”… Nếu một ngày được bắt đầu từ giờ Tý (từ 23 giờ đêm đến 1 giờ sáng) là thời điểm lạnh nhất và đến giờ Ngọ (giữa ngày) là thời điểm nóng nhất thì theo lịch cổ của người Bách Việt một năm bắt đầu từ tháng Tý (tháng lạnh nhất) và đến giữa năm là tháng Ngọ (tháng nóng nhất). Nóng là thuộc về dương nên Tết Đoan Ngọ được gọi là Đoan Dương (tết cực nóng). Tháng Tý được nhắc đến ở trên là ứng vào tháng 11 theo âm lịch mà chúng ta hiện nay đang sử dụng. Nhưng nếu theo cách tính loại lịch của người Bách Việt thì tháng này gọi là tháng Một, tháng 12 âm lịch gọi là tháng Chạp, tháng 1 âm lịch gọi là tháng Giêng… Cách gọi này của người Việt cổ vẫn còn được sử dụng trong dân gian và theo cách tính của loại lịch này thì ngày Tết Đoan Ngọ mồng 5/5 mới đúng là ngày giữa năm, ngày nóng nhất trong năm.


Nếu theo cách tính của âm lịch mà chúng ta và một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc… đang dùng hiện nay thì tháng đầu năm là tháng Dần (tháng 1 âm lịch). Như vậy đến giữa năm phải là tháng Mùi (tháng 6 âm lịch) chứ không phải là tháng Ngọ như lịch của người Bách Việt. Do đó nói Tết Đoan Ngọ có nguồn gốc từ văn minh Bách Việt mới chính xác.
Cách tính năm theo lịch cổ của người Bách Việt còn lưu lại dấu vết ít nhiều cho đến thời kỳ sau này. Ví dụ theo sách Đại Nam nhất thống chí thì đến đầu thế kỷ XIX người dân ở Bất Bạt (nay thuộc Ba Vì, Hà Nội), Mỹ Lương (nay thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội) “hàng năm lấy tháng 11 làm tháng đầu năm, hằng tháng lấy ngày mồng 2 làm ngày đầu tháng, gọi là tháng lui, ngày tiến”.
Một số dân tộc ít người cũng theo cách tích lịch cổ xưa, như theo lịch của đồng bào Khơ Mú, năm mới bắt đầu từ tháng 11 âm lịch, sớm hơn năm mới của người Việt 2 tháng… Đó chính là những dấu vết còn lại của hệ thống lịch của cộng đồng người Bách Việt.
Có theo cách tính này thì mới có thể thấy rõ được nguồn gốc của Tết Đoan Ngọ, Tết giữa năm, Tết nóng nhất…

Nguồn: Internet

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

Bánh tro - bánh gio nhân đậu xanh sầu riêng

Ngày xưa nhà mình bận rộn, tới ngày Tết Đoan Ngọ toàn đi mua bánh về cúng. Bây giờ rảnh rang mình nghiên cứu món bánh này. Trước là có bánh cúng tổ tiên, sau là biếu chị em người một ít. Mời các bạn cùng tham gia!
Nguyên liệu: 
2kg gạo nếp
180g nước tro tàu
300g đậu xanh cà không vỏ
200g đường
200g sầu riêng
chút muối
Lá tre, hay lá chuối
dây lạt hay nylon
Cách làm:
Ngâm nếp: đêm thứ 1: vo sạch nếp rồi hòa 2,5 lít nước với 120ml nước tro tàu . Đêm thứ 2 xả nước cũ, pha 2,5 lít nước + 60ml nước tro tàu ngâm nếp tiếp. Hôm sau vớt nếp ra xả nước nhiều lần cho sạch để bánh không đắng, rồi để cho ráo.
Làm nhân: Nấu đậu xanh theo tỷ lệ 1 đậu + 1 nước + chút muối cho đậu chín mềm mang ra tán nhuyễn (ngay khi đậu còn nóng tán rất mau) rồi trộn với đườngcho đều, bỏ lên xào trên lửa riu riu. Khi nhân sền sệt cho sầu riêng vào trộn đều là xong. Chờ nhân còn âm ấm viên lại thành từng viên cỡ ngón chân cái.
Rửa lá: Có thể gói bằng lá tre hay lá chuối. Rửa lá cho sạch, lau khô xếp lá để chuẩn bị gói.Lá chuối xé từng miếng ngang chừng 7-8cm đem phơi cho mềm, hay trụng sơ qua nước sôi cho dễ gói.
Gói bánh: Lấy lá tre cuốn lại như cái phễu, bỏ nếp vào ghép mí lá lại theo đáy hình tam giác, lấy dây cột lại. Miệng giữ một đầu dây cuốn theo hình tam giác 3 cạnh rồi thắt dây lại. Nếu bánh có nhân thì bỏ nếp vào trước, rồi đến nhân, và cuối cùng là nếp lên trên. Gói xong cột cột bánh lại thành từng chục để bỏ vào, vớt ra cho dễ.
 Luộc bánh: Cho nước vào nồi , chờ sôi cho ít lá dứa vào, đến mấy lá tre cho khỏi cháy bánh, rồi cho bánh vào luộc. Nấu chừng 3 tiếng, bánh lớn nấu lâu hơn. Khi bánh chín, vớt ra, xối nước lạnh cho sạch rồi treo lên cho ráo. Bánh ăn nguội mới ngon!
Bánh không nhân: Bánh gói nhỏ chừng 3cm, ăn với mật.
Chúc các bạn thành công!

Bichnga
* Mình đã thử bằng giấy nhôm để gói cho tiện, nhưng không đẹp. Có mùi lá vẫn hay hơn! Mà nhìn cũng đẹp mắt nữa.
* Nếu nhà bạn nào trồng mè, sau khi thu hoạch hạt mè, để cho thâm cây khô đi , rồi mang về đốt lấy tro, lóng lấy nước làm bánh thơm hơn loại mua ngoài tiệm.

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

Cải thiện sức khỏe nhờ ăn sáng theo kiểu Nhật

Bữa sáng của người Nhật nhìn qua chẳng khác gì bữa tối với một chén cơm hoặc bánh mì nướng, súp miso, cá, trứng, đậu hũ, rong biển, rau quả muối cùng đậu nành lên men. Trao đổi với Zester Daily, chuyên gia ẩm thực Sonoko Sakai chia sẻ những lý do khiến bữa sáng dân xứ Phù Tang là lựa chọn tuyệt vời để bắt đầu ngày mới.
Cải thiện sức khỏe nhờ ăn sáng theo kiểu Nhật


Ăn đồ lên men mỗi ngày
Theo truyền thống, người Nhật dùng các món như súp miso, nước tương, giấm và muối koji từ ngũ cốc lên men để làm gia vị chính. Bên cạnh đó, rau củ muối, mơ ngâm cùng đậu nành lên men không thể thiếu.
Ngoài tác dụng bảo quản thức ăn khi chưa có tủ lạnh, đồ lên men hỗ trợ tiêu hóa, thậm chí được coi là dược liệu. Người Nhật cổ có câu "ăn mơ ngâm mỗi ngày thì không phải đi khám". Hấp thụ điều độ thực phẩm lên men giúp đường ruột khỏe mạnh.
Ăn nhiều món với lượng nhỏ
Cư dân đất nước mặt trời mọc chuẩn bị nhiều món với lượng nhỏ. Họ quan niệm ăn chỉ nên no 80%. Ngoài ra, đa dạng hóa thức ăn cung cấp đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.
Thực phẩm quan trọng nhất trong bữa sáng người Nhật là gạo; có thể gạo trắng, gạo nâu hoặc cháo giúp bổ sung carbohydrate. Món cá, trứng, đậu nành lên men cùng súp miso bù đắp protein sau một đêm ngủ dài. Cá thường được nướng hoặc áp chảo, nêm nếm đơn giản với muối, ngoài protein còn đem đến omega 3.
Đi cùng với các loại protein chất lượng và gạo, người Nhật còn dùng rong biển và các món salad.
Chọn thực phẩm tươi ngon
Bữa sáng Nhật Bản ít bơ, gia vị, đường và nước sốt nên cần lựa chọn thực phẩm tươi ngon. Rau không được héo, hoa quả phải chọn mua theo mùa còn cá được lấy từ các chợ bán hàng đánh bắt tự nhiên. Điều này đảm bảo giá trị dinh dưỡng của thức ăn và hạn chế nguy cơ nhiễm độc.
Nói tóm lại, bữa sáng truyền thống kiểu Nhật đơn giản mà tỉ mỉ. Dù có thể không hợp với khẩu vị của tất cả mọi người, các món ăn xứ Phù Tang vẫn là cách tuyệt vời để bắt đầu ngày mới. Một khi bắt đầu ăn sáng kiểu Nhật, bạn sẽ phát hiện ngũ cốc, thịt và cá, rau củ tươi hay muối, hoa quả có thể biến bữa đầu tiên trong ngày thành một buổi tiệc. Không chỉ sức khỏe mà tâm trạng của bạn cũng sẽ thay đổi rõ rệt.

Theo VNE

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

Món ngon thơm mùi mắc mật đặc trưng ở Lạng Sơn


Đến với mảnh đất phía Đông Bắc của Tổ quốc, bạn không thể không thử qua vịt quay hay thịt heo nướng lá mắc mật.



Mắc mật là tên gọi theo tiếng Tày, Nùng của cây hồng bì núi. Mắc mật thuộc loại cây gỗ nhỏ, thích hợp nơi có điều kiện khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình năm 20-23 độ C. Mắc mật ra hoa tháng 4-5, quả chín vào tháng 7-8, khi chín có màu trắng nhờ đến trắng trong và chứa 1-2 hạt.
Tại Việt Nam, cây mắc mật được trồng nhiều ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Quả mắc mật vị hơi chua ngọt, giàu hàm lượng vitamin C, có thể ăn tươi hoặc dùng để nấu, kho trong một số món ăn. Lá mắc mật có hàm lượng protein, sắt, mangan, can xi rất cao, có tinh dầu thơm nên được dùng trong các món vịt quay, lợn quay, kho cá. Hạt mắc mật phơi khô xay thành bột, dùng để làm gia vị.
qua.jpg
Quả mắc mật có vị ngọt ngọt, chua chua, he he đặc trưng. Ảnh: nonnuoccaobang.
Đối với sức khỏe lá mắc mật có tác dụng lợi mật, kích thích tiêu hóa, bảo vệ gan, có thể sản xuất thành thực phẩm chức năng. Tinh dầu quả mác mật có tác dụng bảo vệ gan, giảm đau, là nguyên liệu để làm thuốc. Lá và rễ cây mắc mật được dùng làm nguyên liệu trong Đông y.
Rất nhiều món ăn của người Lạng Sơn sử dụng các thành phần của cây mắc mật và trở thành đặc sản nổi tiếng của vùng mà khắp nơi đều biết như vịt quay lá mắc mật, bồ câu nướng lá mắc mật, cá kho mắc mật, chân giò hầm mắc mật, thịt heo nướng lá mắc mật...
Thịt heo nướng lá mắc mật
thit-quay.jpg
Thịt heo rửa sạch, để ráo nước, ướp với lá mắc mật giã nhỏ, nước mắm, muối, húng lìu. Để khoảng 1 giờ cho thấm gia vị, rồi nướng trên than hồng.
Bao tử nhồi mắc mật
Bao tử lợn làm sạch. Lá mắc mật ướp gia vị gồm muối, bột ngọt, nước mắm. Nhồi lá mắc mật vào bao tử heo rồi khâu lại. Hấp bao tử khoảng 20 phút cho chín, sau đó chiên vàng trên chảo dầu. Khi ăn cắt ra, chấm nước mắm gừng và lá mắc mật non.
Vịt quay lá mắc mật
vit-quay.jpg
Đây là đặc sản mà bạn không thể bỏ qua khi đến Lạng Sơn. Lá mắc mật nhồi vào bụng vịt, đem nướng chín vàng thơm nức.
Cá chép nướng lá mắc mật
Cá chép moi nội tạng, lóc bỏ xương giữa. Ướp với ngò gai, rau thơm, tỏi, bột ớt, bột ngọt, muối. Lá mắc mật rửa sạch, nhồi vào trong mình cá, dùng vỉ kẹp chặt giữ cho lá mắc mật không bị rơi ra ngoài. Nướng cá trên than hồng. Ăn nóng với muối tiêu chanh.
Măng xào lá mắc mật
mang-xao.jpg
Măng non tước hay thái tùy thích. Lá mắc mật thái nhỏ. Xào măng gần chín thì cho lá mắc mật vào, đảo đều.
Thịt bò kho lá mắc mật
Thịt bò cắt miếng vừa ăn. Xếp thịt bò vào nồi, một lớp thịt bò rồi tới một lớp lá mắc mật, nêm gia vị gừng, hành, nước mắm, muối, nấu lửa liu riu cho đến khi thịt mềm.
Vịt xào măng và lá mắc mật
vit-xao-mang.jpg
Thịt vịt làm sạch, chặt miếng vừa ăn, đêm xào chín với gia vị rồi cho măng củ thái nhỏ vào xào cùng, thêm ớt tươi, lá mắc mật rồi tắt bếp.
Bồ câu nướng lá mắc mật
Bồ câu làm sạch. Lá mắc mật ướp gia vị gồm muối, bột ngọt, nước mắm. Nhồi lá mắc mật vào trong bụng bồ câu. Nướng bồ câu trên than hồng.
Ong xào lá mắc mật
Ong xào lá mắc mật chỉ có ở một số nhà hàng của Lạng Sơn và khá đắt, thực khách phải dũng cảm mới nên thử món này. Nhộng ong để nguyên đảo cùng dầu ăn, gia vị rồi cho lá mắc mật vào, món ăn có mùi thơm và vị ngậy.

Theo ngôi sao

Phương Pháp Toạ Thiền - Tu viện Thường Chiếu P3


C. Xả thiền
Khi xả thiền, trước đọc bài nguyện hồi hướng:
            "Nguyện đem công đức này
            Hướng về khắp tất cả
            Ðệ tử và chúng sanh
            Ðều trọn thành Phật đạo".
Kế đến, dùng mũi hít vào, dùng miệng thở ra ba hơi (từ nhẹ đến mạnh).
Hít vô tưởng như máu huyết theo hơi thở lưu thông khắp cơ thể. Thở ra tưởng như phiền não, bệnh hoạn, cấu uế theo hơi thở ra ngoài.
Ðộng hai bả vai mỗi bên lên xuống 5 lần.
Ðộng cái đầu cúi xuống ngước lên 5 lần.
Xoay đầu sang phải.
Xoay đầu sang trái mỗi bên 5 lần, rồi trở lại cúi ngước lên xuống 1 lần nữa cho quân bình.
Ðộng hai bàn tay co duỗi 5 lần.
Ðộng thân 7 lần, lần chót dời hai bàn tay úp lên 2 đầu gối, nhấn mạnh xuống.
Xoa mặt 20 - 30 lần.
Xoa hai lỗ tai 20 - 30 lần.
 Xoa đầu 20 -30 lần.
Xoa sau gáy 20 -30  lần.
Xoa cổ 20 -30  lần.
Dùng bàn tay phải xoa từ vai xuống cánh tay.
Bàn tay trái xoa từ nách xuống bên hông, hai bên kết hợp xoa một lượt mổi bên 10 lần.
Lòng bàn tay phải đặt lên ngực, lưng bàn tay xoa lên lưng, hai tay kết hợp xoa một lượt (xoa ngang). Xoa ba điểm thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu 5 lần (ngực, bụng, bụng dưới).
Dùng hai bàn tay xoa thắt lưng.
 Xoa mông.
 Xoa đùi (xoa đùi tùy theo sự đau nhiều hay đau ít không có số lượng).
Xoa hai ngón tay giữa cho nóng
 Áp vào mắt mổi bên 5 lần.
Một tay nắm đầu các ngón chân, một tay giơ cổ chân từ từ để nhẹ xuống.
Hai bàn tay cùng xoa mạnh lên xuống từ đùi đến bàn chân và xoa nóng 2 lòng bàn chân. Xoa bàn chân này xong rồi xoa bàn chân kia, xoa tùy thích không có số lượng.
Duỗi hai chân ra
Thân rướn về phía trước, các ngón tay vừa chạm đầu các ngón chân 5 lần.
Dời thân khỏi bồ đoàn, ngồi yên khoảng vài phút mới đứng dậy lạy Phật.
* Chú ý: Khi xả thiền mọi động tác xoa bóp đều phải ấn mạnh vào da, nhưng đừng thô ồn. Các động tác và hơi thở bắt đầu từ tế đến thô (nhẹ đến mạnh).
Thống nhất Phương Pháp Toạ Thiền do Hoà Thượng dạy tại Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt ngày 8.2.Kỹ Mão ( 25.03.1999)

Hết